logo Hospitalsbox.com

Bệnh viện Mắt Trung Ương - Hà Nội

Viết đánh giá
Tình trạng: Review
Liên hệ

Địa chỉ: 85 Phố Bà Triệu – P. Nguyễn Du – Q. Hai Bà Trưng – TP. Hà Nội 
Tel: 024 3826 3966 - Fax: 024 3945 4956
Email: bvmtw@vnio.vn
Facebook: https://www.facebook.com/vnio.vn
Website: http://vnio.vn

GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI

Lịch sử hình thành của Bệnh Viện Mắt Trung Ương

Dưới thời Pháp thuộc, năm 1917 Viện Mắt được thành lập tại Hà nội với qui mô 50 giường bệnh, lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ nhưng kỳ thực là một nhà thương chữa mắt nhỏ bé mà nhân dân quen gọi là “Nhà thương chữa mắt dốc Hàng Gà”, chỉ có vài bác sỹ, được trang bị thô sơ, khám và điều trị các bệnh mắt thông thường, chủ yếu phục vụ thực dân Pháp và do người Pháp trực tiếp điều hành.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ gian khổ (1946 -1954). Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan, công sở, bệnh viện được sơ tán và rút vào các vùng căn cứ cách mạng. Đội ngũ y bác sỹ Bệnh viện Mắt TW đã tham gia kháng chiến, phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho quân và dân ta trên khắp các mặt trận, các chiến dịch, góp phần không nhỏ cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

Năm 1954, chiến thắng Điện biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã đập tan cuộc chiến xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Chính quyền cách mạng trở về tiếp quản Thủ đô, mở ra một thời kỳ phát triển mới của Bệnh viện Mắt TW nói riêng và ngành Nhãn khoa Việt Nam nói chung. Nhà thương chữa mắt dốc Hàng Gà  đã được Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ khám chữa các bệnh về mắt cho nhân dân lao động.

Tháng 8/1956, một sự kiện đặc biệt quan trọng đánh dấu mốc son trong lịch sử ngành mắt Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm Viện Mắt. Người đã quan tâm đến Viện Mắt và xem đây sẽ là hạt nhân để phát triển ngành mắt Việt Nam, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ mắt cho nhân dân. Bác đã trò chuyện thân mật, động viên cán bộ, nhân viên và người bệnh. Người căn dặn: “ Các cô các chú là những thầy thuốc chữa mắt nên phải có phương pháp dự phòng bệnh mắt hột, phải tích cực chạy chữa cho những người bị đau mắt, đem lại ánh sáng cho nhân dân…”. Người còn căn dặn nhiều điều và đặc biệt quan tâm đến cơ sở vật chất của Bệnh viện. Tiếp đó, đầu năm 1957, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đến thăm, làm việc và có ý kiến chỉ đạo đối với công tác phòng chống bệnh về mắt, đặc biệt là tình hình bệnh mắt hột thời bấy giờ diễn biến rất phức tạp. Ngày 1/7/1957, Viện Mắt hột chính thức được thành lập theo quyết định số 278/TTg ngày 1/7/1957 của Thủ tướng Chính Phủ với nhiệm vụ: Nghiên cứu bệnh mắt hột, phương pháp phòng và chữa bệnh mắt hột, tham mưu và giúp Bộ Y tế tổ chức công tác phòng chống bệnh mắt hột và phòng chống mù loà trên toàn quốc.

Trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc vừa xây dựng và củng cố cơ sở vật chất vừa là hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam, Bệnh viện Mắt TW  cũng trong bối cảnh ấy: vừa cùng với các địa phương xây dựng mạng lưới chuyên khoa mắt, đào tạo cán bộ, điều tra nghiên cứu tình hình các bệnh về mắt, phòng chống dịch bệnh, thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh...vừa ứng phó với những cuộc leo thang phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, kéo theo là những khó khăn, ác liệt: cơ sở bị tàn phá, di chuyển liên tục, trang thiết bị, thuốc men, vật liệu thiếu thốn, cán bộ nhãn khoa kiêm luôn những chuyên khoa khác phục vụ cứu thương, phục vụ chiến đấu,... Bên cạnh đó, ngành Mắt phải đào tạo đội ngũ cán bộ nhãn khoa hoạt động tại các địa phương và chuẩn bị lực lượng cán bộ chi viện cho miền Nam. Nhiều thầy thuốc nhãn khoa đã anh dũng ngã xuống, xương máu và chiến công của họ cũng thầm lặng, nhẹ nhàng thấm vào niềm vui chung của dân tộc...

Sau ngày thống nhất đất nước, cùng với cả nước khôi phục sau chiến tranh, Bệnh viện Mắt TW cùng với toàn ngành Mắt tiếp tục củng cố và xây dựng hệ thống phòng chống mù loà trên toàn quốc, tập trung vào giải quyết các vấn đề bức xúc trong lĩnh vực bệnh mắt, khám chữa bệnh mắt cho quân và dân, công tác vệ sinh phòng bệnh, tập trung nghiên cứu khoa học, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế ... khắc phục những thiếu khó thời hậu chiến.

Dưới sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Y tế, Bệnh viện Mắt TW đã không ngừng lớn mạnh, phát huy và kế thừa truyền thống đoàn kết, sáng tạo, năng động trong công cuộc đổi mới đất nước, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật của Nhãn khoa thế giới được ứng dụng thành công, đưa sự nghiệp vì sức khoẻ nhân dân lên tầm cao mới. Hình ảnh người thầy thuốc Nhãn khoa đã để lại ấn tượng sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước thông qua cử chỉ ân cần, tận tình khám, chữa bệnh cho nhân dân, không ngừng rèn luyện phẩm chất cách mạng, phẩm chất của người thầy thuốc.

Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, vượt lên những khó khăn chung của ngành, của đất nước, Bệnh viện Mắt TW đã phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực đạt được những thành tựu đáng tự hào. Cơ sở hạ tầng phục vụ khám chữa bệnh được nâng cấp và xây dựng mới đáp ứng qui mô 300 giường bệnh. Nhiều trang thiết bị hiện đại được đầu tư, kỹ thuật mới được ứng dụng phục vụ khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh về mắt, như: mạch ký huỳnh quang, siêu âm chẩn đoán, chụp cắt lớp võng mạc OCT, điều trị phẫu thuật các tật khúc xạ bằng  laser, vi phẫu thuật dịch kính võng mạc, mổ đục thể thuỷ tinh bằng phương pháp Phaco, Phaco lạnh..., điều trị phục hồi cho trẻ khiếm thị, ghép giác mạc, sử dụng laser hồng ngoại điều trị cận thị tiến triển ở trẻ em,... Hàng trăm các công trình  nghiên cứu khoa học, từ điều tra cơ bản đến những công trình nghiên cứu ứng dụng đã được khẳng định và đạt hiệu quả cao trong thực tế. Ngoài ra, Bệnh viện Mắt TW còn tăng cường hợp tác chuyên môn, nghiên cứu khoa học với các đơn vị trong và ngoài ngành y tế như phối hợp với Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam thực hiện chương trình “Vì ánh mắt trẻ thơ”, phối hợp Viện Dinh dưỡng điều tra tình hình khô mắt do thiếu Vitamin A ở trẻ em, phối hợp với Bệnh viện Nhi TW, Bệnh viện Phụ sản TW  nghiên cứu và điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non, phòng chống mù loà ở trẻ em,...

Bệnh viện Mắt TW trong vai trò là Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của cả nước, nhiều năm qua công tác đào tạo cán bộ và chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn luôn được coi trọng và quan tâm. Hàng năm, Bệnh viện Mắt TW cử nhiều đoàn cán bộ là những bác sỹ giỏi đến các vùng miền, các tỉnh khó khăn để chuyển giao khoa học kỹ thuật và triển khai các chương trình phòng chống mù loà cộng đồng, phối hợp tổ chức mở các lớp đào tạo nghiên cứu sinh, thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa I và II, chuyên khoa định hướng, điều dưỡng chuyên khoa, bác sỹ tuyến huyện… trở thành “cái nôi” đào tạo cán bộ nhãn khoa cho các cơ sở y tế trong cả nước.

Bên cạnh công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới,  Bệnh viện Mắt Trung ương coi trọng hợp tác quốc tế và có quan hệ hợp tác toàn diện với  nhiều nước:  Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Australia, Ấn Độ... Quan hệ hợp tác thường xuyên, toàn diện với hàng chục tổ chức quốc tế như: WHO, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF), FHF, HKW, Sight First, CBM, Orbis, VESI, Quỹ Lion Clubs, ITI, Atlantic philanthropies (AP)... Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng uỷ, Ban Giám đốc, các khoa, phòng, các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ…hoạt động tích cực, nỗ lực trong công tác chuyên môn, sôi nổi trong các hoạt động phong trào, từ thiện vv…Đời sống cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, tạo thêm niềm tin yêu và gắn bó với đơn vị. Năm thập kỷ qua(1957 – 2007), một chặng đường phấn đấu vẻ vang của cán bộ nhãn khoa Bệnh viện Mắt TW. Chặng đường ấy gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong những năm tháng gian nan, khốc liệt của chiến tranh, bao vấn đề ngổn ngang sau những năm thống nhất đất nước cần khắc phục, thiếu khó của những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với ngành Mắt Việt Nam, Bệnh viện Mắt TW đã thực sự trưởng thành, tôi luyện nên những người thầy thuốc kiên trung, quả cảm, ưu tú, mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ ngành Mắt noi theo như cố Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên, Anh hùng lao động Nguyễn Trọng Nhân, bác sỹ – liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm... Bệnh viện Mắt TW đã có một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nhân văn trong sáng, giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn được phân bổ đều trên mọi miền tổ quốc, đang ngày đêm học tập, rèn luyện ra sức phục vụ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc mắt cho nhân dân. Các danh hiệu cao quý: Huân chương độc lập, Huân chương lao động, Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới cùng nhiều phần thưởng danh dự khác mà Bệnh viện Mắt TW đã được Đảng và Nhà nước trao tặng ghi nhận những cống hiến trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nhiều năm qua.

Trước xu thế hội nhập và phát triển, trước cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật như vũ bão trên thế giới, và đặc biệt đáp ứng yêu cầu tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh tiến trình CNH-HĐH đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đòi hỏi cán bộ công chức Bệnh viện Mắt TW không tự mãn với những kết quả đạt được, tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, thực hiện lời dạy của Bác Hồ, chung sức xây dựng Bệnh viện Mắt TW phát triển theo hướng “Khoa học – Dân tộc – Hiện đại và Nhân văn”.

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh Viện Mắt Trung Ương

1. Khám chữa bệnh, phòng bệnh và  phục hồi chức năng về Mắt cho bệnh nhân trong cả nước ở  tuyến cao nhất.

  • Tiếp nhận bệnh nhân khám cấp cứu về mắt.
  • Điều trị nội, ngoại trú cho BN theo BHYT, các BN mà các tuyến chưa có khả năng điều trị.
  • Khám, chữa bệnh cho người nước ngoài.
  • Khám giám định y khoa theo yêu cầu của hội đồng giám định y khoa Trung ương.
  • Khám giám định y pháp theo trưng cầu của các cơ quan thực thi pháp luật.
  • Phối hợp với các cơ sở phòng chống mù loà hoặc trung tâm phòng chống bệnh xã hội ở các tỉnh để phát hiện và dập tắt dịch về mắt.
  • Thực hiện phòng bệnh và tuyên truyền phòng các bệnh về mắt.
  • Khám và điều trị BN theo yêu cầu.
  • Điều trị và phục hồi chức năng cho người khiếm thị.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Bộ Y tế.

2. Nghiên cứu khoa học

  • Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, đào tạo, góp phần giải phóng mù loà  cho nhân dân cả nước.
  • Nghiên cứu  và ứng dụng các kỹ thuật mới trong khám và chữa bệnh về mắt.
  • Nghiên cứu kết hợp y học dân tộc với y học hiện đại trong khám, chữa bệnh về mắt.
  • Nghiên cứu các bệnh đặc thù về mắt.
  • Nghiên cứu khoa học cơ bản về chuyên nghành mắt.
  • Nghiên cứu phương pháp phòng bệnh mắt.
  • Nghiên cứu xây dụng mô hình cơ cầu bệnh mắt trong toàn quốc.
  • Nghiên cứu định hướng phát triển chuyên ngành mắt.
  • Chủ trì và tham gia các công trình nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, và cấp cơ sở.
  • Tổ chức các hội nghị khoa học trong nước và quốc tế.
  • Tổ chức các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học phối hợp trong nước và với nước ngoài.

3. Đào tạo cán bộ chuyên nghành mắt

  • Đào tạo cán bộ chuyên khoa mắt ở bậc trung học, cao đẳng, đại học và sau đại học.
  • Là cơ sở thực hành của trường đại học Y Hà Nội.
  • Đao tạo lại, đào tạo liên tục cho cán bộ công chức, viên chức trong bệnh viện.
  • Đào tạo lại cho cán bộ tuyến dưới.
  • Tham gia đào tạo phục vụ các chương tình quốc gia, các chương trình, dự án phối hợp với nước ngoài .
  • Nhận đào tạo cho các thực tập sinh nước ngoài đến học tập, nghiên cứu tại bệnh viện.
  • Biên soạn các giáo trình, tài liệu, sách giáo khoa phục vụ cho công tác giảng dạy học tập.

4. Chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật

  • Tham mưu cho BYT về định hướng phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh, phòng bệnh về mắt.
  • Chỉ đạo, theo dõi, giám sát, đánh giá hoạt động chuyên môn của tuyến dưới.
  • Chuyển giao công nghệ cho tuyến dưới.
  • Quản lý, tổ chức, triển khai các chương trình, dự án tuyến dưới.
  • Phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nghành y tế để thực hiện truyền thông giáo dục sức khoẻ. Phát hành tờ rơi, tuyên truyền, giáo dục về cách phòng, chống các bệnh về mắt.
  • Tham gia lập kế  hoạch và tổ chức thực hiện phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ.

5. Phòng bệnh

  • Duy trì lịch sinh hoạt gia đình người bệnh hàng tuần để tư vấn cho người nhà bệnh nhân về chăm sóc, nuôi dưỡng và cách phòng chống một số bệnh thường gặp ở mắt, phòng lây chéo trong bệnh viện.
  • Tổ chức các câu lạc bộ sinh hoạt theo chuyên đề tại bệnh viện.

6. Quản lý bệnh viện

  • Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện theo quy định của nhà nước, cụ thể:

Quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, tiền lương.

Quản lý tài chính, tài sản, cộng sản của bệnh viện.

Quản lý phát triển các dự án.

Quản lý chuyên môn kỹ thuật và người bệnh.

Quản lý hồ sơ bệnh án, tài liệu.

  • Quản lý và sử dụng có hiệu quả viện trợ quốc tế.
  • Quản lý các dịch vụ chuyên môn y tế và các dịch vụ khác để tăng nguồn kinh phí cho bệnh viện và cải thiện đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức trong bệnh viện theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.
  • Quản lý an ninh chính trị, trật tự an toàn cơ quan và cảnh quan môi trường.

7. Hợp tác quốc tế

  • Chủ động khai thác, thiết lập mối quan hệ hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm và trao đổi chuyên gia về phòng bệnh và khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học , đào tạo cán bộ.
  • Xây dựng các dự án đầu tư liên doanh, liên kết với các nước và các tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức phi chính phủ để trình Bộ trưởng Bộ y tế phê duyệt ; tổ chức, huy động nguồn lực để thực hiện các dự án đó theo quy định của nhà nước.
  • Xây dựng kế hoạch và quản lý những  người nước ngoài đến theo chương trình hợp tác quốc tế với bệnh viện trong phạm vi hoạt động của bệnh viện theo quy định của BYT; cử cán bộ , học viên đi học tập, nghiên cứu, công tác ở nước ngoài ; nhận giảng viên , học viên là người nước ngoài đến nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và học tập tại bệnh viện .

Tổ chức các hội nghị, hội thảo ,các lớp học quốc tế về các lĩnh vực thuộc phạm vi của bệnh viện quản lý theo quy định về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại VN của thủ tướng Chính phủ. Việc ký kết hợp tác với nước ngoài, bệnh viện tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Các khoa lâm sàng Bệnh Viện Mắt Trung Ương

1. KHOA MẮT TRẺ EM

Khoa điều trị những bệnh lý bẩm sinh như đục thể thủy tinh; glôcôm; di chứng màng đồng tử; bất thường về mi mắt như sụp mi, quặm bẩm sinh, tật khúc xạ; vận nhãn; 1 số bệnh nhiễm khuẩn mắt ở trẻ em, phục hồi chức nǎng thị giác.

Một số phẫu thuật đặc trưng: mổ đục thể thủy tinh ở trẻ em, điểu trị glôcôm bẩm sinh, quặm bẩm sinh, lác, sụp mi, tạo 2 mí...

2. KHOA CHẤN THƯƠNG

Khoa Chấn thương điều trị tất cả những bệnh lý có nguồn gốc chấn thương mi, đường lệ; hố mắt; nhãn cầu, bệnh lý về u của nhãn cầu, tổ chức cạnh nhãn cầu và mi mắt. Phẫu thuật tạo hình mi mắt, túi cùng đồ kết mạc, nhãn cầu, phẫu thuật dịch kính võng mạc.

3. KHOA ĐÁY MẮT MÀNG BỒ ĐÀO

Chẩn đoán và điều trị những bệnh liên quan đến bệnh đáy mắt màng bồ đào; dịch kính; võng mạc; thị thần kinh và kết hợp điều trị đông y (châm cứu, dùng thuốc đông dược) Tây y.

Nhiều kỹ thuật tiên tiến như chụp mạch huỳnh quang võng mạc, laser quang đông võng mạc, laser YAG, cắt dịch kính đã được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân. 

Phẫu thuật đặc trưng: mổ bong võng mạc bằng các phương pháp ấn độn củng mạc; khí nở nội nhãn; cắt dịch kính, phẫu thuật lỗ hoàng điểm, lạnh đông điều trị 1 số bệnh hắc võng mạc...

Quang đông bằng laser phòng bong võng mạc và điều trị 1 số bệnh đáy mắt.

4. KHOA KẾT GIÁC MẠC

Khoa Kết giác mạc điều trị những bệnh thuộc phần trước nhãn cầu: bệnh liên quan đến mi mắt kết mạc; giác mạc; các tuyến nước mắt; đường dẫn nước mắt.

Phẫu thuật đặc trưng của khoa: ghép giác mạc, ghép màng rau thai, mộng có vá kết mạc, tiếp khẩu lệ mũi...

5. KHOA GLÔCÔM

Khoa điều trị bệnh glôcôm, ngoài ra còn tham gia điều trị bong võng mạc, nhiễm khuẩn nội nhãn, đục thể thuỷ tinh... nhiều phẫu thuật trong điều trị bệnh Glaucome đã được thực hiện như cắt kẹt củng mạc, kẹt củng mạc dưới vạt củng mạc, phẫu thuật cắt củng mạc sâu, điều trị các hình thái Glaucome tái phát bằng phương pháp cắt bè củng giác mạc và áp các thuốc chống chuyển hóa như 5 Fluo-Uraxin, Mytomicin C...

6. KHOA KHÁM BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

Thực hiện công tác khám bệnh mắt và điều trị ngoại trú bệnh nhân có chỉ định. Khám bệnh nhân đối tượng bảo hiểm y tế, bệnh nhân đúng tuyến, trẻ em dưới 6 tuổi, người nước ngoài. Kê đơn và sử dụng thuốc cho bệnh nhân ngoại trú an toàn, hợp lý. Thực hiện tiểu phẫu, trung phẫu theo quy định...

Các khoa lâm sàng của Bệnh Viện Mắt Trung ương  đều tham gia phẫu thuật điều trị đục thể thuỷ tinh, giải phóng mù lòa và thực hiện công tác chỉ đạo các tuyến dưới theo chương trình của Phòng chỉ đạo chuyên khoa.

7. KHOA GÂY MÊ - HỒI SỨC

Khám, tiếp nhận, sắp xếp và theo dõi sức khoẻ, thể trạng của bệnh nhân trước, trong và sau khi phẫu thuật. Đảm bảo phòng mổ, dụng cụ phẫu thuật, máy móc có chất lượng đảm bảo vô khuẩn cao; chuẩn bị đầy đủ thuốc men sử dụng trong phẫu thuật và hồi sức cấp cứu.... Ngoài ra tham gia công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến...

8. KHOA KHÁM CHỮA BỆNH ĐIỀU TRỊ THEO YÊU CẦU

Khám và điều trị bước đầu, phân loại bệnh nhân, khám và điều trị nội khoa và phẫu thuật theo yêu cầu của người bệnh.

Tại đây bệnh nhân sẽ được các giáo sư, bác sĩ trưởng, phó khoa lâm sàng khám, hội chẩn nếu có yêu cầu.

Về phẫu thuật, tại khoa có thể thực hiện từ phẫu thuật nhỏ như chắp lẹo, mộng, quặm, tạo hình, phẫu thuật thẩm mỹ, lác, sụp mi, túi lệ tới đại phẫu thuật như mổ lấy thể thuỷ tinh bằng phương pháp phaco đặt thể thuỷ tinh nhân tạo, glôcôm, phẫu thuật điều trị cận thị bằng laser eximer.

9. KHOA TẠO HÌNH THẨM MỸ

Trước đây các bệnh lý cần tạo hình mắt được điều trị ở các khoa như khoa chấn thương, kết giác mạc hay mắt trẻ em. Một số phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mắt được thực hiện tại khoa phẫu thuật tạo hình hay khoa hàm mặt của các bệnh viện  khác. Trước tình hình bệnh nhân có bệnh lý hay các vấn đề về mắt cần phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ ngày càng đông, một khoa chuyên trách được thành lập để giải quyết vấn đề một cách chuyên sâu. Năm 2011, khoa Tạo hình và thẩm mỹ được thành lập.

10. KHOA KHÚC XẠ

Khám và điều trị các tật khúc xạ và một số bệnh mắt khác để đáp ứng nhu cầu của người bệnh về mọi mặt: điều chỉnh khúc xạ bằng kính (kính gọng,kính tiếp xúc), phẫu thuật khúc xạ (giác mạc, thể thủy tinh) theo xu hướng phát triển nhãn khoa hiện đại là toàn diện và chuyên sâu. Phục hồi chức năng cho những bệnh nhân kiếm thị. Tổ chức dịch vụ mài lắp kính chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Nghiên cứu khoa học về các nội dung liên quan đến tật khúc xạ phục vụ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chẩn đoán và điều trị, đặc biệt chú ý nghiên cứu cải thiện chất lượng thị lực của phẫu thuật khúc xạ, thí dụ phẫu thuật điều chỉnh khúc xạ theo biến đổi mặt sóng, phẫu thuật thể thủy tinh đặt kính nội nhãn chỉnh loạn thị.

Các khoa cận lâm sàng Bệnh Viện Mắt Trung Ương

1. KHOA DƯỢC

Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa). Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu. Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị. Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”. Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện.Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc.Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện.Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược.Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện 

2. KHOA XÉT NGHIỆM TỔNG HỢP

Thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm về Huyết học, Sinh hoá, Vi sinh vật và Giải phẫu bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán bệnh và theo dõi kết quả điều trị. áp dụng, nghiên cứu các kỹ thuật mới, tiên tiến để chẩn đoán, theo dõi, điều trị các bệnh lý về mắt; Tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học theo chuyên khoa hoặc phối hợp với các khoa, các bệnh viện khác; Tham gia đào tạo, huấn luyện cho tuyến dưới và các đối tượng chuyên khoa khi có yêu cầu; Tham gia hội chẩn trong và ngoài bệnh viện theo từng chuyên khoa khi cần thiết.

3. KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

Thực hiện các kỹ thuật tạo ảnh y học, để chẩn đoán bệnh và theo dõi kết quả điều trị bằng các thiết bị X.quang, siêu âm, điện võng mạc, điện chẩm, sắc giác, đo công suất thuỷ tinh thể... Lưu trữ, bảo quản một số phim ảnh điển hình và kết quả thăm dò để phục vụ nghiên cứu khoa học và giảng dạy...

4. KHOA KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN

Xây dựng kế hoạch chống nhiễm khuẩn hàng quý, hàng năm. Giám sát thường quy nhiễm khuẩn bệnh viện, 1 năm điều tra cắt ngang 1 lần, kịp thời tìm giải pháp xử lý khi có nhiễm khuẩn bệnh viện. Kiểm tra, đôn đốc thực hiện quy chế chống nhiễm khuẩn bệnh viện, quy chế xử lý chất thải, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh khoa phòng, buồng bệnh. Quản lý phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp của nhân viên y tế.  Huấn luyện và đào tạo cán bộ, tổ chức các lớp học chống nhiếm khuẩn cho toàn thể công chức – viên chức...Quản lý các hoạt động giặt là và trả đồ vải các khoa phòng. Sản xuất và cung cấp bông gạc đã tiệt trùng.  Khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ các khoa phòng.  Kiểm tra thường xuyên vệ sinh an toàn thực phẩm khoa Dinh dưỡng. Đề xuất mua trang thiết bị, hoá chất, vật tư tiêu hao phục vụ cho công tác chống nhiễm khuẩn, giám sát sử dụng hiệu quả.

 

Thông tin sẽ được cập nhật thêm.

 

Chương trình đang được xây dựng...

Địa chỉ áp dụng

Đo chỉ số tài chính

Thu nhập bình quân hàng năm (vnđ)

Quỹ y tế dự phòng mong muốn

Số tiền bạn sẵn sàng chi cho quỹ dự phòng mỗi tháng là

Tỉ lệ lạm phát tham chiếu 5%

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Giỏ hàng( Sản phẩm)

avatar
Xin chào
close nav